Theo ông Lê Duy Bình, Giám đốc Cty Economica Việt Nam hàng loạt các chính sách hỗ trợ doanh nghiệp dù được Chính phủ đưa ra nhưng cần được thiết kế phù hợp hơn với cơ chế điều hành hoạt động của thị trường.

Lễ công bố Báo cáo “Tác động của dịch bệnh COVID-19 đối với doanh nghiệp Việt Nam” do VCCI và WB tổ chức sáng ngày 12/3.

“Ví dụ thiết kế đầu tiên của chính sách cho vay lãi suất 0% trả lương người lao động ngay lúc đầu không phù hợp đã khiến doanh nghiệp khó tiếp cận”, ông Bình chia sẻ.

Đồng quan điểm, ông Đậu Anh Tuấn, Trưởng Ban Pháp chế Phòng Thương mại và Công nghiệp Việt Nam (VCCI) cũng cho biết, theo kết quả Báo cáo “Tác động của dịch bệnh COVID-19 đối với doanh nghiệp Việt Nam”, chính sách vay tín dụng 0% để trả lương cho lao động được doanh nghiệp đánh giá là khó tiếp cận nhất. Mặc dù sau đó, Chính phủ đã có sửa đổi và doanh nghiệp đã dễ tiếp cận hơn nhưng trước đó đã là hạn chế lớn các doanh nghiệp.

Báo cáo cũng chỉ ra, các giải pháp về gia hạn thuế như giãn thuế thu nhập doanh nghiệp, thuế VAT… là giải pháp dễ tiếp cận nhất.

Cùng với đó, về mức độ dễ dàng của việc tiếp cận thông tin các chính sách hỗ trợ theo quy mô doanh nghiệp cho thấy, trong khi các doanh nghiệp tư nhân quy mô vừa hoặc lớn có xu hướng đánh giá thuận lợi hơn trong tiếp cận thông tin về các chính sách hỗ trợ, thì với các doanh nghiệp FDI lại có dấu hiệu ngược lại.

Khi phân chia theo lĩnh vực ngành nghề, mức độ thuận lợi trong tiếp cận chính sách hỗ trợ trong các ngành như Sản xuất thiết bị điện, May mặc và Sản xuất cao su, nhựa là những ngành có tỷ lệ doanh nghiệp cho biết dễ tiếp cận các chính sách nhiều hơn ở khu vực doanh nghiệp tư nhân.

Với khu vực FDI, đó là doanh nghiệp trong các ngành Nông nghiệp, thuỷ sản, Bất động sản và Bán buôn, bán lẻ cho biết tiếp cận chính sách hỗ trợ tốt hơn.

Mức độ tiếp cận các giải pháp hỗ trợ.

Mức độ tiếp cận các giải pháp hỗ trợ.

Khi phân chia theo quy mô doanh nghiệp và khu vực kinh tế, các doanh nghiệp tư nhân quy mô lớn đánh giá cao hơn các nhóm còn lại về mức độ hữu ích của các chính sách hỗ trợ, trong khi các doanh nghiệp nhỏ và vừa FDI đánh giá mức độ hữu ích về chính sách cao hơn nhóm doanh nghiệp FDI quy mô lớn.

Có thể thấy trên thực tế, trong khi nhiều ý kiến doanh nghiệp đặt nhiều kỳ vọng vào các gói hỗ trợ của Nhà nước đối với doanh nghiệp bị ảnh hưởng bởi COVID-19, những bất cập trong thiết kế chính sách hỗ trợ đang cản trở quá trình triển khai. Đặc biệt hơn, khi các doanh nghiệp lớn thích ứng và tiếp cận các hỗ trợ tốt hơn thì các doanh nghiệp nhỏ lại khó khăn hơn nhiều.

“Doanh nghiệp phải chứng minh rất nhiều thứ, không chỉ là về vấn đề tiêu chuẩn mà còn phải chứng minh về tài chính. Doanh nghiệp thì rất ngại phải đi chứng minh trên sổ sách kế toán là doanh nghiệp mình “không có khả năng chi trả” để rồi các cơ quan Nhà nước vào kiểm tra đánh giá. Nhiều doanh nghiệp bỏ qua các quyền lợi vì để đạt được quyền lợi thì gặp rất nhiều “rắc rối”. Đây là trở ngại chính khiến các gói hỗ trợ khó tiếp cận và kém hữu ích với doanh nghiệp”, ông Trương Văn Cẩm, Phó Chủ tịch Hiệp hội Dệt may Việt Nam cho biết.

Đánh giá dư địa còn rất lớn, do đó, doanh nghiệp mong muốn có thêm các giải pháp gia hạn, giản thuế. Đồng thời, đơn giản các thủ tục để tiếp cận giải pháp này.

Theo đó, đề nghị một số chính sách hỗ trợ cần kéo dài thời gian dài hơn bởi tác động của đại dịch COVID-19 có thể ảnh hưởng đến 1-2 năm tiếp theo nên cần có các giải pháp giúp doanh nghiệp dần dần phục hồi.

“Đặc biệt cần lưu ý việc thực thi chính sách hỗ trợ doanh nghiệp của các địa phương cần được chú trọng và có tổng kết để phục vụ tốt hơn cho cộng đồng doanh nghiệp”, Giám đốc Cty Economica Việt Nam lưu ý.

Theo enternews