Sự kiện - chuyên đề:

Thầy học của vua Hàm Nghi

VHDN: “Khanh nể trẫm, là nể trọng khuôn phép, chứ không phải nể quyền uy nơi trẫm. Nếu không nghiêm như thế, thì làm sao đào luyện được tài năng, hoàng tộc sẽ không có người kế nghiệp xứng đáng.”

Vua Hàm Nghi ( ảnh minh họa nguồn internet)

Ấy là những lời vua Tự Đức nói với cử nhân Nguyễn Doãn Cử, giảng quan phủ Tôn Nhân, chuyên dậy dỗ đám con em vương tộc, lúc ông giáo râu đã đốm bạc tuổi lục tuần. Chẳng là, do quá chú tâm dậy dỗ đám trẻ, ông quên khuấy chúng là “con cháu nhà giời”, lỡ tay cầm roi đét đít một vương tôn lười nhác. Tỉnh ra, ông phát hoảng, vội dâng sớ tạ tội và xin cáo quan về vườn. Nhưng may, Tự Đức ngoại trị thì sợ Tây, nhưng nội trị là vua hay chữ, trọng thầy, nên chẳng những không trách tội mà còn đưa cho thầy thêm ba cái roi nữa, để giữ nghiêm việc học.

Cũng là cơ may cho cậu bé Ưng Lịch, sau là vua Hàm Nghi, tư chất thông minh, ham hiểu nghĩa lý hơn là thuộc chữ như đám con nhà quyền quí khác, có được bậc thầy xứng đáng.

Con đường đưa một nho sinh xuất thân từ gia tộc nhiều đời nho học thanh bần vùng quê chùa Keo-làng Dũng Nghĩa, xã Duy Nhất, huyện Vũ Thư, Thái Bình, vào triều dậy con cháu nhà vua, lắm sự tình cờ cứ như trò chơi của số phận.

Chào đời vào ngày 7/5 Tân Tỵ (1821), tên hiệu Bằng Phi, cậu bé Doãn Cử tỏ ra thông minh từ bé. Mẹ là con gái vị Tiến sĩ vùng Hoàng Xá. Sau ít năm dậy chữ, tập văn cho cậu tại nhà, thấy con ham học lại sáng dạ, người cha gửi Doãn Cử sang làng Bái Dương theo học Tiến sĩ Ngô Thế Vinh, một danh sĩ đương thời. Tư chất của Doãn Cử được thầy và bạn yêu lắm, nên cử cậu làm trưởng tràng. Thế nhưng, đường khoa cử của nho sinh này lại lận đận, mấy khoa liền không đỗ. Hẳn là do văn bút của ông phóng khoáng, vượt ra ngoài lối văn cử nghiệp khuôn sáo đương thời. Mãi đến năm 43 tuổi, khoa thi Giáp Tý (1864), ông mới đỗ Cử nhân. Ông cũng chỉ ngang với bằng cấp của người anh cả như  Doãn Vọng-Đốc học tỉnh Nghệ An, thầy học của Phan Đình Phùng, Phan Huy Nhuận, Phan Trọng Mưu-và em út Doãn Tựu, tuy có hơn các anh em khác tú tài, nhị trường.

Ông được bổ lên miền núi làm Huấn đạo huyện Thanh Ba, rồi giáo thụ, rồi Tri huyện Lập Thạch (Phú Thọ), sau là Tri huyện Quảng Lăng (Quảng Trị). Sau, công cuộc phòng giặc, an dân khu vực miền núi phía Bắc cấp bách trước sự quấy nhiễu của quân Thanh và nhòm ngó của quân Pháp, ông được bổ nhiệm quyền Tuần phủ Sơn Tây-Hưng Hóa-Tuyên Quang. Ông giúp dân mở mang đồn điền, an cư lạc nghiệp, chăm lo việc học, nghiêm trị bọn quan lại hà lạm, giữ yên một vùng mạn ngược. Ông hiểu rằng lòng dân mới thật sự là phên giậu quốc gia. Còn dân thì tôn ông là “Sinh Phật” (Phật sống). Ông vẫn quen nếp sống thanh đạm, ngày thường thong dong bộ quần áo lụa tơ tằm do người vợ tần tảo ở quê tự mình canh cửi gửi lên cho. Ông chỉ giầu sách vở. Sách “bách gia” ông sưu tầm và mê mải học, từ sử đến thi ca, binh pháp; từ thiên văn đến phong thủy và lịch pháp…như xu hướng các đầu óc bách khoa thư thời ấy.

Vào lúc vùng biên ải cần đến người đủ tài, đức, ân, uy như Doãn Cử, thì đường sự nghiệp của ông được định đoạt tại triều đình. Ông thầy dậy ở phủ Tông Nhân kiêm Sử quán toàn tu, hàm Thị độc học sĩ-cử nhân Vũ Phạm Khải-xin về hưu. Ông cử Vũ ngày trước từng nghe tiếng anh nho sinh Doãn Cử, nên mới mời anh Tuần phủ miệt rừng vô Huế để thử tài ứng đối, văn thơ. Ông mừng rỡ thôt lên: “Văn chương như anh  mới đáng gọi là văn chương chứ! Còn ngoài ra, người ta chỉ biết học để thi cử mà thôi!” Tiền bối Vũ Phạm Khải liền tiến cử Nguyễn Doãn Cử làm thầy học ở phủ Tôn Nhân.

Bấy giờ ở kinh đô Huế cũng như vùng Thanh-Nghệ-Thừa-Quảng thiếu gì tiến sĩ nhòm ngó vinh lộc làm thầy dậy con em nhà vua. Nhưng Tự Đức y lời tiến cử của vị lão thần. Hẳn vị vua này muốn chọn cho con cháu Hoàng tộc một ông thầy đủ tâm, tài đức. Ngày 12/1/1879, Doãn Cử được gọi về kinh làm giảng quan phủ Tôn Nhân, thăng Hàn lâm viện thị giảng, sung Quốc sử quán biên tu.

Trong đám con cháu Hoàng gia, Ưng Lịch tỏ ra có chí hơn cả. Cậu ham hiểu biết, ưa thực học. Ứng đối và tập văn, cậu không sao chép, bắt chước sách vở. Cậu cũng ham hiểu biết địa lý, thiên văn, binh pháp. Có lần cậu hỏi thầy về vị trí của “nhị thập bát tú” (28 vì sao trên trời).Thầy Doãn Cử phải đưa cậu sang đài Khâm thiên giám, dung kính viễn vọng mà giảng giải. Chắc hẳn Ưng Lịch còn nhận được ở thầy những bài học không có trong sách vở, đó là lòng yêu nước, thương dân và nghĩa khí.

Một hôm, sau bốn năm nghỉ việc về quê dậy học, ở tuổi 64, đang trên giường bệnh, thầy Doãn Cử nghe Chiếu Cần vương (1885) của vua Hàm Nghi truyền đến. Ông trở dậy, gọi người con cả Doãn Chí đến, bảo: “Mệnh thầy chưa hết đâu, thầy sẽ khỏe để cùng anh em, con cháu giữ làng, giữ nước theo Chiếu Cần vương”. Con cháu chưa bao giờ thấy ông vui như thế. Học trò Ưng Lịch-vua Hàm Nghi  đã vượt qua o ép của phái chủ hòa, đã đứng lên phất cờ kháng chiến. Thầy Cử đã được hưởng phần thưởng xứng đáng của một người thầy, phần thưởng ấy vua cũng không ban nổi!

Đúng ra thì chưa cần đợi có Chiếu cần vương, hơn nữa, có gan trái mệnh triều đình chủ trương hòa hoãn, quên cả tuổi cao sức yếu, vừa về hưu, cụ Doãn Cử đã cùng với gia tộc và dân chúng một vùng ven biển lập thế trận phòng thủ. Khi ấy quân Pháp đánh tới Nam Định (1882). Bên cạnh ông có những bạn hữu cùng chí như Nguyễn Hữu Bản, những học trò như Tiến sĩ Vũ Hữu Lợi (về sau bị giặc bắt, xử chém). Ông đi vận động mộ binh, quyên góp nuôi quân. Ông tự tay vẽ bản đồ, cùng các đồng chí hoạch định các tuyến phòng thủ, các đồn nghĩa sĩ. Ông có mặt trong trận huyết chiến giữ thành Nam ngày 27/3/1883. Thành bị hạ, Nguyễn Hữu Bản tử trận, còn ông trở về thu thập nghĩa binh giữ tuyến sau. Trước khi lâm bệnh, ông trao quyền chỉ huy cho Bang Úc-con trai Nguyễn Hữu Bản; con trai ông là Doãn Chí và một số nghĩa sĩ khác làm phó tướng.

Đó là ngọn lửa kháng chiến mà thầy Doãn Cử góp sức nhóm lên ở vùng quê này, cùng với tiếng súng giữ nước ở nhiều nơi trên toàn quốc, làm bà đỡ oanh liệt cho phong trào cần vương ra đời.

Những năm cuối đời, Nguyễn Doãn Cử dưỡng bệnh ở quê. Vẫn nhà tranh vách đất. Lộc vua Tự Đức ban cho lúc về hưu là kỷ vật của một phụ huynh với thầy dậy con em mình hơn là lộc nước. Vẻn vẹn là hai tấm sa nam, mười lạng bạc, năm thanh quế, một bộ ấm chén, chiếc khay trà nạm vỏ ốc ngũ sắc Tân Gia Ba (Singapore). Ông sống bằng niềm kỳ vọng ở những học trò, từ người phất cờ nghĩa Hàm Nghi đến những nghĩa sĩ ứng Chiếu cần vương như Phó bảng Trần Xuân Sắc bên nghĩa quân Bãi Sậy (Hưng Yên), hay đang đợi cơ hội nhập cuộc như Tiến sĩ Nguyễn Khuê (Hà Nội), Phó bảng Nguyễn Kế Tích, Tản Đà Nguyễn Khắc Hiếu (Sơn Tây), Cử nhân Nguyễn Thiện Kế (Hưng Yên), …

Nguyễn Doãn Cử từ trần ngày 12/2 năm Canh Dần (1890) sau 30 năm làm thầy học, thọ 69 tuổi. Đám tang ông rất đông dân làng, bè bạn và học trò, nghèo tiến phúng nhưng giầu câu đối viếng. Ông sống nghiệp văn, chết được đưa tiễn bằng văn.

Kẻ sĩ, nhà giáo, trang nghĩa sĩ Nguyễn Doãn Cử cũng là nhà thơ. Ông để lại tập thơ chữ Hán Bằng Phi thi tập  có ý vị riêng, cùng bản dịch Chính khí ca của Văn Thiên Tường (đời Tống) chống quân Nguyên.

Sẽ là khiếm khuyết nếu tách rời dòng họ Nguyễn Doãn đất Dũng Nghĩa với các dòng họ Nguyễn của Nguyễn Mậu Kiến ở Động Trung, họ Doãn của Doãn Phúc ở Song Lãng, họ Nguyễn-Ngô của Nguyễn Quang Bích ở Trình Phố và họ Đặng Xuân của Đặng Xuân Bảng ở Hành Thiện (Nam Định) phía tả ngạn sông Hồng. Họ nhiều đời kết giao thân quyến, bạn hữu với nhau, góp sức đào tạo lớp lớp nhân tài cho đất nước và vào buổi tao loạn thì sát cánh bên nhau. Thời hiện đại thì con cháu của các họ này có mặt trong các phong trào Đông du, Đông kinh nghĩa thục, Quang phục hội. Thời hiện đại cũng xuất hiện một lớp trẻ sớm hướng tới Thanh niên cách mạng đồng chí Hội, như Nguyễn Công Xước, Nguyễn Danh Đới, Đặng Xuân Khu (Trường Chinh)…

Thế Văn

08:40:02 07-11-UTC

VHDN: “Khanh nể trẫm, là nể trọng khuôn phép, chứ không phải nể quyền uy nơi trẫm. Nếu không nghiêm như thế, thì làm sao đào luyện được tài năng, hoàng tộc sẽ không có người kế nghiệp xứng đáng.” Vua Hàm Nghi ( ảnh minh họa nguồn internet) Ấy là những lời vua Tự […]

Đối tác của chúng tôi