Sự kiện - chuyên đề:

Tượng đài Con Tàu Sông Đốc: Điểm tập kết ra Bắc ở tây Nam Bộ

VHDN: Tôi về Sông Đốc trong một buổi chiều gió cuối biển phương Nam thổi xao xác, lòng bỗng nghe bồi hồi, lắng lại khi đứng trước Tượng đài Con Tàu Sông Đốc – nơi từng là điểm tập kết ra Bắc của hàng vạn người con miền Nam trong những năm tháng đất nước chia cắt.

 

Con đường dẫn ra tượng đài hai bên là những hàng cây xanh, lá rung khẽ như thì thầm những câu chuyện cũ. Từ xa, hình dáng con tàu hiện lên vững chãi, hướng mũi ra biển lớn, như vẫn còn mang trong mình khát vọng ra đi vì một ngày trở về. Tôi đứng lặng dưới chân tượng đài. Con tàu ấy không chỉ là hình khối bằng bê tông và thép, mà là biểu tượng của một thời lịch sử. Đó là thời điểm sau Hiệp định Genève 1954, khi đất nước tạm thời bị chia cắt hai miền. Theo các điều khoản của hiệp định, trong vòng 300 ngày (1954-1955), lực lượng kháng chiến, cán bộ, bộ đội và một bộ phận Nhân dân miền Nam được tập kết ra Bắc để củng cố lực lượng, chuẩn bị cho một ngày thống nhất.

Tượng đài Con Tàu Sông Đốc – Ảnh TL.

… Tượng đài Con Tàu Sông Đốc hôm nay là một quần thể kiến trúc được đầu tư quy mô, hài hòa giữa không gian cảnh quan ven biển. Toàn bộ công trình trải rộng trên diện tích hơn 10 ha, nằm ngay cửa biển Ông Đốc. Từ ngoài vào là tuyến đường trải nhựa rộng rãi, dẫn khách tham quan đi qua khu vực bãi đậu xe, rồi dần mở ra không gian quảng trường thoáng đãng. Những hàng đèn chiếu sáng, vỉa hè lát đá và các lối đi bộ được bố trí chỉn chu, tạo cảm giác trang nghiêm mà vẫn gần gũi. Nổi bật ở trung tâm là tượng con tàu – hạng mục chính của công trình. Con tàu được chế tác bằng đá granite, dài khoảng 25 mét, cao hơn 10 mét, bề thế như đang vươn mình ra biển lớn. Hai bên thân tàu là những bức phù điêu và nhóm tượng cũng bằng đá, tái hiện cảnh người dân, cán bộ, chiến sĩ trong giờ phút chia tay lên đường tập kết. Hình ảnh những cánh tay vẫy, những dáng đứng lưu luyến, những khuôn mặt khắc khoải… tất cả được khắc họa sống động, khiến người xem như nghe lại nhịp thở của một thời lịch sử. Bao quanh tượng đài là hệ thống quảng trường rộng lớn – nơi có thể tổ chức các hoạt động tưởng niệm, lễ kỷ niệm. Những mảng cây xanh, cụm cảnh quan và hình tượng sóng nước được bố trí đan xen, vừa làm mềm không gian đá, vừa gợi lên cảm giác biển khơi – nơi những con tàu năm xưa đã rẽ sóng ra đi.

Một điểm nhấn đặc biệt là các cầu dẫn (cầu cạn) nối từ đất liền ra khu vực tượng đài. Những nhịp cầu này không chỉ mang tính kết nối mà còn tạo cảm giác cho ta như đang bước dần ra “con tàu lịch sử”. Khi đi trên cầu, nhìn xuống là mặt nước mênh mang, người ta dễ hình dung lại cảnh bến sông năm xưa – nơi từng diễn ra những cuộc chia tay lặng lẽ mà sâu nặng nghĩa tình. Tất cả các hạng mục, từ đường vào, cầu dẫn, quảng trường đến tượng đài chính đều được thiết kế đồng bộ, vừa mang tính tưởng niệm, vừa là không gian văn hóa cộng đồng. Và giữa không gian ấy, con tàu vẫn là linh hồn của công trình, như đang chờ một chuyến ra khơi chưa bao giờ kết thúc.

Sông Đốc thời ấy là một cửa biển quan trọng ở cực Nam Tổ quốc, đã trở thành một trong những điểm tập kết lớn. Từ đây, những con tàu đưa người ra Bắc. Họ ra đi không phải để rời bỏ quê hương, mà để giữ trọn lời hẹn với tương lai của đất nước. Gió từ biển thổi vào, mang theo vị mặn. Tôi chợt nghĩ, cũng chính cơn gió này, hơn bảy mươi năm trước, đã tiễn bước bao người lên đường. Có người là thanh niên mới lớn, có người đã là cha, là mẹ, có cả những em nhỏ theo gia đình tập kết. Họ mang theo hành trang giản dị: vài bộ quần áo, cuốn sổ tay, tấm hình gia đình… và một niềm tin sâu sắc rằng ngày trở về sẽ không xa.

Tôi hình dung cảnh bến sông những năm 1954-1955: không khí vừa khẩn trương vừa lặng lẽ. Những ánh mắt dõi theo. Những cái nắm tay thật chặt. Những lời dặn dò nhiều khi chưa kịp nói hết đã phải chia xa. Có những giọt nước mắt rơi, nhưng người đi vẫn bước lên tàu, bởi họ hiểu, chuyến đi này không chỉ cho riêng mình. Những con tàu đã chở theo cả một phần lịch sử. Mỗi chuyến tàu là một lần chia ly. Và mỗi con người bước lên tàu là một câu chuyện về tình quê, về gia đình, về những ước mơ còn dang dở phải gửi lại phía sau.

Đứng trước tượng đài hôm nay, tôi thấy lòng mình lắng xuống. Thời gian đã trôi qua hơn nửa thế kỷ. Sông Đốc giờ đây nhộn nhịp với tàu cá ra vào, với tiếng máy nổ, tiếng người gọi nhau rộn ràng. Tôi bước chậm quanh tượng đài, đọc những dòng chữ khắc ghi. Mỗi cái tên, mỗi con số đều không vô tri. Đó là dấu ấn của một thế hệ đã chấp nhận rời xa quê hương vì nhiệm vụ lịch sử – tập kết ra Bắc để xây dựng hậu phương vững mạnh, tiếp tục đấu tranh cho độc lập và thống nhất đất nước. Chiều xuống dần. Mặt trời đỏ rực nơi chân trời. Biển Cà Mau, nhuộm cả một màu vàng ấm. Con tàu trên tượng đài như đang rẽ sóng, hướng về phía biển khơi. Tôi chợt nhận ra, đó không chỉ là hướng ra Bắc của ngày xưa, mà còn là hướng của niềm tin, của khát vọng vươn mình bước vào kỷ nguyên mới.

Rời tượng đài, tôi ngoái lại nhìn lần cuối. Con tàu vẫn đó, lặng lẽ mà kiêu hãnh. Như một chứng nhân của thời gian, như một lời nhắc nhở sâu sắc: hãy nhớ về những năm tháng 1954-1955 ở Sông Đốc, nơi những chuyến tàu ra đi, mang theo niềm tin của ngày thống nhất. Gió biển vẫn thổi. Và trong lòng tôi, một điều gì đó vừa lắng xuống, lại dâng lên như con sóng nhẹ nhàng vỗ vào bờ ký ức.

 

Mai Lý (Cần Thơ)

(Theo Tạp chí in VHDNVN tháng 5/2026)

16:21:07 13-05-2026

VHDN: Tôi về Sông Đốc trong một buổi chiều gió cuối biển phương Nam thổi xao xác, lòng bỗng nghe bồi hồi, lắng lại khi đứng trước Tượng đài Con Tàu Sông Đốc – nơi từng là điểm tập kết ra Bắc của hàng vạn người con miền Nam trong những năm tháng đất nước […]

Đối tác của chúng tôi