Sự kiện - chuyên đề:

Y VÊNG: Bay cao cánh chim Chơ Rao giữa đại ngàn Tây Nguyên

VHDN: Chị Y Vêng sinh năm 1950, người dân tộc Xơ Đăng, sinh ra và lớn lên ở làng Van Tó, xã Đăk Ui, huyện Đăk Hà, tỉnh Kon Tum. Sống trên quê hương anh hùng, chị đã sớm giác ngộ và đi theo các lớp cha anh làm cách mạng và trưởng thành từ rất sớm. Chức vụ cao nhất trong cuộc đời làm cách mạng của chị là Ủy viên Ban chấp hành Trung ương Đảng, Bí thư Tỉnh ủy Kon Tum.

Chị sinh ra và lớn lên ở một làng quê giàu truyền thống cách mạng, có cha là Anh hùng Lực lượng vũ trang nhân dân, ông rất nổi tiếng trong cuộc kháng chiến chống thực dân Pháp và đế quốc Mỹ; con trai chị là U Huấn, Ủy viên dự khuyết Trung ương Đảng, Trưởng đoàn đại biểu Quốc hội tỉnh Kon Tum.

Chị Y Vêng đang khuyên bảo các cháu lo học hành.

Tuổi thơ theo cha kháng chiến

Cha chị Y Vêng là ông A Tranh, ông theo bộ đội đi đánh giặc từ khi cái đầu cao chưa qua ngọn bắp, là một chiến sĩ gan dạ, mưu trí, dũng cảm, lập được nhiều chiến công trong cuộc kháng chiến chống thực dân Pháp và đế quốc Mỹ. Năm 1970 ông đã được đề nghị phong tặng Anh hùng Lực lượng vũ trang nhân dân, nhưng do cuộc chiến tranh giai đoạn này hết sức cam go, ác liệt, hồ sơ, giấy tờ đã bị thất lạc, mãi đến năm 1995 ông mới được Nhà nước phong tặng Anh hùng Lực lượng vũ trang nhân dân.

Chị Y Vêng nhớ lại khi còn nhỏ, vào một ngày trời mưa rất to, những con sông, con suối ở đây nước lớn và chảy xiết, đi lại rất khó khăn, những người dân trong buôn làng không đi làm được nên đã tụ tập ở nhà bàn tán nhiều chuyện. Đây cũng chính là cơ hội để ông A Tranh nói chuyện, tuyên truyền với họ: “Bà con mình phải đoàn kết, thương yêu lẫn nhau để tạo nên sức mạnh đánh đuổi đế quốc Mỹ xâm lược. Cũng giống như những cái cây trong rừng, nếu mọc đơn lẻ ở bìa rừng thì gió to nó dễ bị ngã, gãy. Còn mọc như những cái cây trong rừng sâu, thành hàng, thành bụi thì cho dù gió to đến mấy cũng khó làm nó ngã, gãy. Muốn đánh đuổi được giặc Mỹ xâm lược thì chúng ta phải đoàn kết trên dưới một lòng. Phải nghe theo Đảng, đi theo Bác Hồ cùng bộ đội giải phóng đuổi được giặc, giải phóng đất nước thì cuộc sống của chúng ta mới được tự do, được ăn no, mặc ấm”. Từ đó người dân làng Van Tó, xã Đăk Ui nghe theo lời ông A Tranh cùng nhau đào hầm nuôi giấu cán bộ, bộ đội giải phóng, đặt chông đánh đuổi Mỹ- Ngụy. Với những chiến công nổi bật, năm 1971 Đăk Ui đã được phong tặng danh hiệu xã Anh hùng.

Thời gian đó, Y Vêng mới 7 tuổi, nhưng với sự thông minh và nhanh nhẹn, chị đã cùng bà con đi cắm chông, đưa cơm cho bộ đội ở các hầm bí mật trong rừng, trong đó có cả hầm của người cha. Nhớ lời dặn của cha: “Đừng cho ai nhìn thấy, cũng đừng nói với ai nghe con…”, chị hiểu cần phải làm gì và ý nghĩa của việc mình làm. Cứ mỗi lần đi đưa cơm, cõng gạo hay đưa tin cho bộ đội, chị lại nhìn trước, ngó sau với những bước chân thoăn thoắt khó có người nào theo kịp. Có lúc chị cất tiếng hát thánh thót như giọng hót của chim Chơ Rao vang vọng núi rừng Tây Nguyên. Từ việc làm ý nghĩa của mình, chị đã tuyên truyền cho những người cùng trang lứa đi đưa cơm, cõng gạo cho bộ đội, đào hầm, cắm chông chống những cuộc càn quét của Mỹ – Ngụy.

Chị kể, tháng 12-1962 khi 12 tuổi, theo cha dự Lễ kỷ niệm 18 năm thành lập Quân đội nhân dân Việt Nam tại xã Đăk Côi, H16 (nay thuộc huyện Kon Rẫy), chị đã xin đi theo đoàn văn công nghiệp dư của huyện, hát những bài dân ca của dân tộc Xơ Đăng, Ê Đê, Ba Na, JRai… và những làn điệu hát Xoan để tuyên truyền bà con đi theo cách mạng và động viên tinh thần cho bộ đội giải phóng đánh giặc. Cũng từ đây chị được các anh bộ đội dạy cho cách bắn súng, ném lựu đạn, huấn luyện đánh giặc kiểu du kích, tấn công và cùng các anh tham gia nhiều trận đánh ở khu vực rừng núi Gia Lai – Kon Tum, giết được nhiều Mỹ – Ngụy.

Như cánh chim Chơ Rao bay giữa đại ngàn Tây Nguyên không biết mệt mỏi, ngày ngày chị vẫn thường xuyên tập múa, tập hát, khâu quần vá áo, đi biểu diễn văn nghệ, tham gia nhiều trận đánh, với những thành tích không hề nhỏ. Cuối năm 1968, khi chưa tròn 19 tuổi, chị đã vinh dự đứng trong hàng ngũ của Đảng, được phân công làm Đội trưởng Đội du kích xã, trong thời điểm nóng bỏng của cuộc kháng chiến. Khi nhận được tin địch đưa quân đi càn quét, chị đã chỉ huy 5 đội viên du kích (3 nam, 2 nữ) của xã Đăk Ui đến phục kích tại eo đồi Ngọc La để đánh địch. Trận đánh không cân sức giữa một bên là tiểu đoàn lính Mỹ – Ngụy hỗn hợp, một bên là đội quân du kích, 3 chiến sĩ nam hy sinh, 2 chiến sỹ nữ thì bị lạc trong rừng. Một mình chị với khẩu Cạc bin trong tay, vẫn nhả đạn, tiêu diệt và làm bị thương mấy tên địch. Rồi nhanh như con sóc, thoăn thoắt nhảy qua các gốc cây, chị nhảy vào hang đá để trốn. Không tìm được, quân địch đành nhả đạn vu vơ về phía chị rồi rút quân.

Những năm tháng trở về phục vụ Nhân dân

Được tôi luyện trong chiến đấu, chị ngày càng vững vàng và trưởng thành. Năm 1970, chị được bầu vào Ban chấp hành Đảng bộ huyện, làm Bí thư Chi bộ xã Đăk Ui. Năm 1971, làm Hội trưởng Hội Liên hiệp phụ nữ H 16. Năm 1972, tại Đại hội Đảng bộ huyện, chị được bầu làm Ủy viên Ban thường vụ Huyện ủy. Cũng trong năm này chị lấy anh U Điều, là bộ đội, đã nhiều năm cùng cha chị chiến đấu trên khắp chiến trường Gia Lai – Kon Tum. Cưới nhau xong, chị lo công tác dân vận, anh miệt mài tham gia các chiến trường, kể cả chiến trường Campuchia. Năm 1980, anh chị sinh được người con trai đầu lòng đặt tên là U Huấn.

Sau ngày miền Nam hoàn toàn giải phóng, sống trong môi trường hòa bình, chị không chỉ hăng say công tác mà còn tích cực nghiên cứu, học tập để nâng cao trình độ mọi măt. Những cố gắng và sự cống hiến của chỉ đã được ghi nhận. Chị từng giữ chức vụ Chủ tịch Hội Liên hiệp phụ nữ tỉnh, Phó trưởng Ban Dân vận Tỉnh ủy. Tháng 10 năm 1991, khi Gia Lai – Kon Tum chia tách thành hai tỉnh Gia Lai và Kon Tum, tại các kỳ Đại hội Đảng bộ tỉnh lần thứ IX, X và XI, chị được bầu vào Ban Thường vụ Tỉnh ủy, làm Chủ nhiệm Ủy ban kiểm tra, Chủ tịch Ủy ban nhân dân tỉnh, Bí thư Tỉnh ủy Kon Tum. Chị là Ủy viên Ban chấp hành Trung ương Đảng khóa IX, khóa X, đại biểu Quốc hội. Năm 2010 chị về nghỉ hưu.

Trong quá trình công tác, cho dù ở vị trí hay cương vị nào, chị luôn gần gũi và tận tụy với Nhân dân, khiêm tốn học hỏi, trau dồi phẩm chất, đạo đức của người chiến sĩ cách mạng, được Nhân dân tin yêu và kính trọng. Khi hoàn thành trọng trách của người cán bộ đứng đầu tỉnh, không chỉ tiếp tục đóng góp cho sự phát triển của tỉnh, chị còn dành nhiều thời gian thường xuyên về nơi sinh ra và lớn lên của mình để được quây quần với bà con thôn làng và dạy bảo thêm cho con cháu của chị là người dân tộc thiểu số. Đó là ước nguyện, cũng là việc làm quá đỗi bình thường và giản dị của chị.

Lê Trọng Sáng

 

09:19:59 10-03-2023

Đối tác của chúng tôi