Sự kiện - chuyên đề:

‘Cấp cứu’ dòng tiền, đẩy mạnh bảo lãnh tín dụng để ‘trợ thở’ cho doanh nghiệp vượt COVID-19

Điều mong mỏi của nhiều doanh nghiệp hiện nay là được ‘cấp cứu’ để có dòng tiền bằng việc khoanh, hoãn nợ, cơ cấu nợ, mở rộng đối tượng vay vốn để cầm cự. Đặc biệt, các biện pháp chống dịch COVID-19 tại các địa phương phải được thực hiện đồng bộ, không nên có rào chắn thì mới khai thông được luồng vận chuyển, giúp doanh nghiệp hồi sinh.

“Sức khỏe” doanh nghiệp bị tàn phá nặng nề bởi COVID-19. Ảnh: TTXVN.

Doanh nghiệp cần máy “ trợ thở”, “oxy” dòng tiền

Những khó khăn tài chính lớn nhất mà các doanh nghiệp đang phải đối mặt lúc này là nguồn tiền chi trả lương cho người lao động; trả lãi vay/trả nợ gốc cho ngân hàng; nộp phí thuê đất/kho bãi/nhà xưởng/văn phòng; đóng các loại phí bảo hiểm.

Trong bối cảnh COVID-19 lần thứ 4 bùng phát, dịch vụ du lịch đang là một trong những ngành bị chịu tác động nghiêm trọng. Từ đầu năm đến nay, các doanh nghiệp du lịch chỉ kinh doanh cầm chừng 3 tháng với lượng khách nội địa ít ỏi, không có khách quốc tế. Các khách sạn nhà hàng, lữ hành vận chuyển và dịch vụ gần như đóng cửa 100%, hàng chục nghìn lao động thất nghiệp.

Theo Chủ tịch Công ty CP Du lịch và Tiếp thị giao thông vận tải Việt Nam (Vietravel), ông Nguyễn Quốc Kỳ, mặc dù có 16 ngân hàng cam kết giảm mạnh lãi, nhưng chỉ 4 ngân hàng hưởng ứng nghiêm túc. Các ngân hàng thương mại hạ lãi vay rất chậm so với những ngân hàng của Nhà nước. “Bối cảnh này, các ngân hàng đều bảo vệ quyền lợi của họ. Ngân hàng sở hữu “nguồn oxy” dòng tiền nên chia sẻ với doanh nghiệp để cùng nhau vượt qua đại dịch. Chúng ta cứ bàn lấy đâu ra oxy? cho bao nhiêu là đủ? nhưng cứ lắp cho doanh nghiệp máy thở đã rồi tính tiếp…”, ông Nguyễn Quốc Kỳ trăn trở.

Lĩnh vực bất động sản hiện đóng góp 7 – 8% GDP hàng năm, có liên quan đến hơn 35 ngành nghề khác; tạo việc làm cho hàng triệu lao động nhưng gần 2 năm phải oằn mình với đại dịch. Hầu hết doanh nghiệp bị “bào mòn” sức khỏe, cạn dòng tiền. Trong kiến nghị gửi Thủ tướng Chính phủ mới đây, Hiệp hội Bất động sản Thành phố Hồ Chí Minh (HoREA) cho rằng: Nếu không được hỗ trợ, nhiều doanh nghiệp sẽ đứng trước nguy cơ mất thanh khoản, “chết trên đống tài sản”. “Việc thực hiện giãn cách xã hội diện rộng khiến nhiều doanh nghiệp không còn tiền để trả lãi vay, trả nợ, duy trì hoạt động, trả lương người lao động”, đại diện HoREA lo lắng.

“Lãi suất cho doanh nghiệp vay không cao hơn 2% so với lãi suất tiền gửi. Ngân hàng Nhà nước (NHNN) cần có thêm chính sách hỗ trợ vay tái cấp vốn; vốn lưu động phục vụ sản xuất, kinh doanh; bảo lãnh thanh toán các hợp đồng mua bán nguyên vật liệu với mức lãi suất 0% cho các doanh nghiệp khó khăn, chịu ảnh hưởng bởi dịch COVID-19”, lãnh đạo UBND Thành phố (TP) Hồ Chí Minh kiến nghị.

Dự báo sớm nhất phải đến quý II/2022, các hoạt động kinh tế của Việt Nam mới có thể trở lại trạng thái bình thường mới, khi đó doanh nghiệp dần khôi phục. Tuy nhiên, các giải pháp hỗ trợ về thuế, gồm giảm thuế thu nhập doanh nghiệp (TNDN) hiện mới chỉ được Nhà nước giới hạn năm 2021.

Đại diện Phòng Thương mại và Công nghiệp (VCCI) đề nghị: Bổ sung dùng ngân sách Nhà nước (NSNN) hỗ trợ chi phí phòng chống dịch bệnh cho những doanh nghiệp cố gắng cao nhất, bằng cách được khấu trừ trong các khoản nộp ngân sách kỳ tiếp theo; mở rộng đối tượng được hưởng chính sách giảm thuế TNDN 30%. Theo đó, các doanh nghiệp có tổng doanh thu không quá 300 tỷ đồng/năm cũng được thụ hưởng, thay vì mức không quá 200 tỷ đồng/năm.

Cần cơ chế đặc biệt để phát huy bảo lãnh tín dụng

Lo tăng trưởng quý 3/2021 âm, một số chuyên gia kinh tế đề nghị Chính phủ thêm gói kích cầu cứu doannh nghiệp. Ảnh: TTXVN.

TS Phạm Đình Thúy, Vụ trưởng Vụ Thống kê công nghiệp và xây dựng (Tổng cục Thống kê) đánh giá: “Các gói hỗ trợ vay vốn đã có nhưng doanh nghiệp khó tiếp cận vì điều kiện ngặt nghèo. Muốn được vay, doanh nghiệp phải chứng minh có tài sản thế chấp, phương án kinh doanh có lãi. Nhà nước không thể đứng ra bảo lãnh nên không mấy ai vay được”.

Trước dịch, tỷ lệ vay vốn của doanh nghiệp công nghiệp ít nhất đạt 50 – 60%, đến 70%. Nhưng thời kỳ này, doanh nghiệp không sản xuất được, tỷ lệ vay vốn thấp vì không có cơ hội sản xuất. Hiện có khoảng 26,8% doanh nghiệp công nghiệp thiếu vốn có nhu cầu vay vốn. “Chúng ta cần tính chuyện tung gói hỗ trợ hiệu quả hơn vì đứt gãy chuỗi cung ứng, sản xuất đang khiến các doanh nghiệp kiệt quệ. Khó nhất bây giờ là phải xác định rủi ro khi cho vay, ai chịu trách nhiệm vấn đề này?. Nhiều doanh nghiệp đứt gãy, cụt vốn, không trả được vốn vay thì phải làm thế nào?”, ông Phạm Đình Thúy bày tỏ.

Nhiều chuyên gia kinh tế cho rằng: Gần 2 năm qua, hệ thống ngân hàng đã rất nỗ lực đưa ra các giải pháp tháo gỡ khó khăn cho doanh nghiệp. Bản thân các ngân hàng cũng là doanh nghiệp nên họ cũng phải thận trọng khi cho vay để tránh nợ xấu “bùng nổ”.

Theo TS Nguyễn Tuấn Anh, Vụ trưởng Vụ Tín dụng các ngành kinh tế (NHNN), NHNN đã ban hành Thông tư 01 về cơ cấu nợ và 2 lần điều chỉnh bằng Thông tư 03, Thông tư 14 để phù hợp thực tiễn nhằm chia sẻ khó khăn với doanh nghiệp và người dân. Các tổ chức tín dụng (TCTD) đã cơ cấu nợ từ khi có dịch đến nay tính lũy kế khoảng 520.000 tỷ đồng. Thời gian tới sẽ còn tăng thêm do dịch bệnh đang diễn biến. “Các ngân hàng thương mại cũng tự dùng nguồn lực của mình để hạ lãi suất cho vay. Tính chung ngân hàng đã hạ lãi suất lũy kế trên 26.000 tỷ đồng. Riêng từ ngày 15/7 đến nay, các ngân hàng đã hỗ trợ giảm lãi suất khoảng 9.000 tỷ đồng. Đây là nguồn hỗ trợ từ việc cân đối lợi nhuận của các ngân hàng”, ông Nguyễn Tuấn Anh cho biết. Đồng thời, lượng dư nợ cho vay mới khoảng 4,46 triệu tỷ đồng, tức gần 50% lượng dư nợ toàn nền kinh tế đã được áp dụng cơ chế mà ngành Ngân hàng đưa ra để hỗ trợ

Ông Andrew Jeffries, Giám đốc Quốc gia của ADB tại Việt Nam cho biết: Việt Nam muốn lấy lại đà tăng trưởng kinh tế nhanh, cần phải đẩy thêm tiền, cụ thể là tín dụng. Tuy nhiên, Chính phủ Việt Nam cần có sự điều phối hài hòa nếu không muốn để lại những hậu quả nghiêm trọng. “Chúng ta có thể thấy hệ thống ngân hàng đã làm gần như hết sức. NHNN đã hạ lãi suất điều hành, giá vốn đã giảm và dự kiến lợi nhuận các ngân hàng thương mại sẽ giảm khoảng 1 tỷ USD năm 2021. Chính sách tiền tệ và hệ thống ngân hàng đã ‘gồng’ lên rất nhiều, dù bên cạnh đó vẫn còn chính sách tài khóa”, ông Andrew Jeffries cho biết.

Theo gợi ý của ông Andrew Jeffries, muốn đẩy tiền ra nền kinh tế, muốn cho doanh nghiệp vay dù họ không đáp ứng chuẩn vay trong bối cảnh hiện nay, một chương trình có thể áp dụng ở đây là bảo lãnh tín dụng. Cụ thể: Chính phủ bảo lãnh một số hoạt động cho vay hay chương trình tín dụng (đảm bảo rủi ro) để cho phép ngân hàng cho một số doanh nghiệp đạt yêu cầu vay.

Việc hỗ trợ lãi suất trực tiếp bằng ngân sách cũng đang được NHNN tính toán nhưng không chỉ mỗi ngành ngân hàng, để cứu doanh nghiệp luc này cần phải có sự vào cuộc quyết liệt của nhiều bộ, ngành, các địa phương. Ví dụ gói hỗ trợ 16.000 tỷ đồng từng được Việt Nam tung ra năm 2009 nhưng cũng khiến các ngân hàng bị “ám ảnh” bởi thủ tục cho vay và việc kiểm toán, thanh quyết toán sau đó.

Theo TS Cấn Văn Lực, thành viên Hội đồng Tư vấn chính sách tài chính – tiền tệ Quốc gia, các doanh nghiệp nhỏ và vừa (DNNVV) đang rất khó khăn, không có khả năng tồn tại, thiếu dự án khả thi, nếu ngân hàng cho vay sẽ rất rủi ro. Trong khi đó, Luật TCTD không cho phép các ngân hàng cho doanh nghiệp thua lỗ vay; Luật Quản lý nợ công quy định Chính phủ không được bảo lãnh vốn vay của doanh nghiệp. “Làm sao để các DNNVV vay được. Chúng ta cần phải vực dậy và phát huy vai trò của các Quỹ bảo lãnh tín dụng DNNVV tại các địa phương. Hiện Việt Nam có 28 quỹ nhưng hoạt động không hiệu quả. Các quỹ này cần sẵn sàng đứng ra bảo lãnh DNNVV như một số quốc gia vẫn làm:, ông Cấn Văn Lực đề xuất.

Ngoài giải pháp tiền tệ – tín dụng, nhiều ý kiến cho rằng, các giải pháp của Chính phủ như như: Tài khóa, an sinh xã hội và chiến lược, chính sách phục hồi sản xuất kinh doanh an toàn trong bối cảnh còn COVID-19 cũng cần phải được thực thi hiệu quả thì mới có sức lan tỏa để vực dậy doanh nghiệp. Việc hỗ trợ ngắn hạn cũng đóng vai trò khẩn thiết để cứu doanh nghiệp như: Đảm bảo các chuỗi cung ứng, lưu thông hàng hóa thông suốt; hỗ trợ cắt giảm chi phí, tháo gỡ khó khăn về dòng tiền cho doanh nghiệp và lực lượng lao động; tạo điều kiện cho doanh nghiệp ổn định và duy trì hoạt động sản xuất.

Kết quả điều tra khảo sát do VCCI thực hiện tháng 9/2021 trên gần 3.000 doanh nghiệp cho thấy: Có tới 93,9% doanh nghiệp cho biết tác động của dịch ở mức độ “hoàn toàn tiêu cực” và “phần lớn là tiêu cực”, tăng so với con số 87,2% của khảo sát năm 2020. Trong đó, khoảng 60% doanh nghiệp cho biết tác động của COVID-19 “phần lớn là tiêu cực” và 34% doanh nghiệp nhận định COVID-19 tác động “hoàn toàn tiêu cực” (gấp 2 lần so với mức 15% năm 2020); chỉ có khoảng 4% cho biết không bị ảnh hưởng bởi dịch và khoảng 2% cho biết đại dịch có tác động tích cực mang lại cơ hội cho doanh nghiệp để phát triển.

Theo Thống đốc NHNN Nguyễn Thị Hồng, NHNN sẽ thường xuyên rà soát, xem xét điều chỉnh chỉ tiêu tăng trưởng tín dụng đối với từng TCTD trên cơ sở tình hình hoạt động, năng lực tài chính và quản trị, điều hành và khả năng mở rộng tín dụng lành mạnh, ưu tiên TCTD giảm mặt bằng lãi suất cho vay nhằm góp phần tháo gỡ khó khăn cho doanh nghiệp và người dân.

Theo TTXVN

15:57:16 28-09-GMT+0700

Điều mong mỏi của nhiều doanh nghiệp hiện nay là được ‘cấp cứu’ để có dòng tiền bằng việc khoanh, hoãn nợ, cơ cấu nợ, mở rộng đối tượng vay vốn để cầm cự. Đặc biệt, các biện pháp chống dịch COVID-19 tại các địa phương phải được thực hiện đồng bộ, không nên có […]

Đối tác của chúng tôi